Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

Tập tục về trinh tiết (Bài phong cách 1).

Nhưng đại khái từ năm 1970, trong rất nhiều cuộc nói chuyện của thanh niên đa số đều tán đồng việc không coi tiết trinh là quan trọng như truyền thống nữa, mà bàn đến đạo đức gia đình mà thôi

Tập tục về trinh tiết (Bài 1)

Có thể coi những quy chế và tập tục về thân phận người đàn bà có từ thời Lê sơ thế kỷ 15 khi Nho giáo có địa vị độc tôn trong tư tưởng thời đại. Các sắc tộc khác không có những quy định ngặt nghèo về chuyện này.

Ông là người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, lấy hiệu là Thọ Mai, thi đỗ tiến sỹ năm 1721, quan chức làm già Hàn lâm thị chế. Vấn đề gái trinh và tiết phụ lần nữa được đề cao dưới thời Nguyễn thế kỷ 19, và bị coi xét lại trong phong trào văn hóa mới tiền chiến trước 1945, tức là khi đời sống thành phố phát triển dưới chế độ thực dân Pháp.

Như vậy có thể nói nhiều quy chế hôn lễ tang ma thoạt đầu được gia đình họ Hồ áp dụng, sau đó nhân nó thích hợp với Nho giáo mà trở nên phổ quát từ giữa thế kỷ 17.

Đọc trong lịch sử, vấn đề tiết trinh cũng rất ít được đề cập ở từng lớp thời Lý Trần, ngay cả vấn đề chính thất và thứ thất (vợ cả và vợ lẽ) cũng rất lơ mơ. Người đàn bà đó hoặc sẽ ở vậy suốt đời, hoặc đi lang thang làm con ở, nàng hầu chốn tỉnh thành, ngõ hầu mong kiếm được một đấng quân tử khác rộng lòng che chở.

Những tập tục của người Trung Hoa được đưa vào Việt Nam về bản chất làm phức tạp hóa và vững chắc làm biến mất các tập tục cũ. Trong bể dâu ngẫu lục , Phạm Đình Hổ có dẫn ra một câu chuyện về Đoàn phu nhân, sau khi chồng chết trận, bà lập đàn tế rồi tự sát theo chồng (Liệt phụ Đoàn phu nhân), cuối cùng có hai câu thơ ca ngợi : Khả liên nhị bách dư niên quốc / Thiên lý nhân di nhất phụ nhân – Thương thay cho cái sơn hà hơn hai trăm năm lẻ / Đạo trời lẽ người đọng lại ở một người phụ nữ.

Nhà Nguyễn đã phong bảng vàng (hoành phi) đức hạnh khả phong cho những góa phụ và gia đình phụ nữ nổi tiếng trung trinh thờ chồng. Chúng tôi từng chuyện trò với các già làng người Cơ Tu, họ nói rằng trước 1975, ở đây không có đạo, hay bất cứ đạo nào, ngoài tín ngưỡng bản địa nguyên sơ, đời sống đó không bởi thế mà kém văn minh hơn chỗ khác.

Như vậy cho đến thế kỷ 15, và nhất là thời Hậu Lê thế kỷ 17, 18, người nữ giới giữ tiết trinh cho đến khi lấy chồng là rất quan yếu, nếu họ để mất điều đó thì cũng đồng nghĩa với sự bất hạnh cả đời.

Khi khảo sát đời sống của các sắc tộc trong nước, tôi (Phan Cẩm Thượng) nhận thấy nghe đâu chỉ có người Kinh (Việt) trong khoảng 500 năm qua đề cập nhiều đến vấn đề trinh tiết của người phụ nữ. Họ có những tập quán khác để gìn giữ bản sắc và đời sống gia đình tốt đẹp, và quan yếu nhất là đời sống sau lễ hôn phối, hầu như thường có gia đình nào rạn vỡ cả, chuyện ngoại tình và ly hôn cũng khôn cùng hiếm hoi.

Nếu một cô gái đã mất trinh trước đêm hôn phối, hôm sau họ tức thời bị trả về nhà bố mẹ với lễ vật là mâm xôi và cái thủ lợn bị cắt tai. (Xem tiếp kỳ sau) Phan Cẩm Thượng Thể thao & Văn hóa Cuối tuần. Cuốn sách Thọ Mai gia lễ được biên soạn trong thế kỷ 17 – 18, dựa theo Chu Công gia lễ bên Tầu, chứng tỏ các quy chế chính thức về tang ma, hôn nhân du nhập vào làng xã cũng khá muộn.

Điều này còn kéo dài đến những năm 1980, và ngày nay đương nhiên có thay đổi. Cuốn sách này có trích dẫn một phần từ Hồ Thượng thư gia lễ. Điểm thứ hai, chính là tình hình thế kỷ 18, đạo lý suy tàn, sau hai trăm năm đạo nho được đề cao, còn rất ít tấm gương tiết liệt, mà trường hợp của Đoàn phu nhân là hy hữu.

Câu thơ này đáng lưu ý hai điểm : tổ quốc hai trăm năm chính là triều đại của vua Lê, do Lê Lợi thành lập năm 1427, sau khi thắng lợi quân Minh, tính đến thời của Đoàn phu nhân (vợ thứ), năm 1786, chồng bà là Du lĩnh hầu Ngô Phúc Du tử trận, Phạm Đình Hổ thì sinh năm 1768 mất năm 1839. Vấn đề này lại được lặp lại lần nữa trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, khi nhiều đàn ông ra chiến trường biền biệt hàng chục năm trời, rồi nhiều người đi mãi chỉ được biết là đã hy sinh sau hòa bình.

Điều này từng được đề đạt trong các trước tác văn chương và bút ký đương thời. Những cuộc nội chiến và chiến tranh chống Pháp triền miên khiến nhiều đàn ông ra trận lâu ngay và tử trận, người ta rất cần nêu những tấm gương đàn bà như vậy.

Trong thế kỷ 18, những cuộc nội chiến và giành giật phe làm cho sơn hà trở thành tao loạn, đạo lý từng lớp sa sút, vấn đề trinh tiết nói trên có vẻ bị lơi lỏng. Cho đến tận thế kỷ 17, khi vua Lê Thần Tông lập bà Trịnh Thị Ngọc Trúc làm chính cung hoàng hậu, trước đó bà đã từng có chồng và bốn con, thì cũng là điều vượt ra khỏi các quy ước tầng lớp.

Gia đình chồng sẽ kiểm tra việc này rất kỹ bằng cách xem tướng cô dâu mới trước khi thành hôn và đêm tân hôn.

Những sắc tộc không du nhập đạo nho có quan niệm khác, đời sống cởi mở và chém đẹp theo chiều hướng khác, tỉ dụ các tộc người Thái (bao gồm cả người Thái Lan, Lào, người Thái Việt Nam, người Lự, người Tày, Nùng… những tộc nói tiếng Thái – Tày), các sắc tộc Tây Nguyên không biết đến Tam giáo Nho Lão Phật.

Tỉ dụ như vua Đinh Tiên Hoàng lập tới bốn bà hoàng hậu. Thả bè chuối trôi sông, một hủ tục trừng trị người nữ giới thất tiết. Theo nhưng tư liệu lịch sử, cuốn Thọ Mai gia lễ được Hồ Sỹ Tân (1690 – 1760) soạn. Từ đó thanh niên thả sức “ăn cơm trước kẻng”. Trích trong sách Kỹ thuật của người An Nam , Henri Oger, NXB Thế giới, 2010.

Việc nêu cao đức hạnh người phụ nữ ở đâu cũng thế thôi, nhưng trở thành lý thuyết, quy chế có nhẽ cốt bởi Nho giáo, với các đề nghị về thân phận của từng giai tầng trong từng lớp. Như Vũ trung tùy bút , bãi bể nương dâu ngẫu lục và tiếng nói nữ quyền được cất lên một cách sinh động trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hương. Vì sao cuốn sách này được phổ quát trong đời sống của người Việt và được cả hai miền Nam Bắc ứng dụng rất nhiều đặc biệt trong tang lễ còn cần phải tìm hiểu.

Ông Hồ Thượng thư tên là Hồ Sỹ Dương, người cùng làng với Hồ Sỹ Tân, đỗ tiến sỹ năm 1652, làm quan tới chức Thượng thư bộ Hình, tước Duệ quận công (theo Thọ Mai gia lễ diễn nghĩa , xuất bản năm 1927, Vũ Hi Tô dịch).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét